Tin tức y tế

/Nội khoa

NHỮNG AI DỄ MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Đăng lúc: 23/11/2021, 09:54

NHỮNG AI DỄ MẮC BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
 

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh ĐTĐ là rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết. Theo thống kê, bệnh ĐTĐ chiếm tỉ lệ tới 60 - 70% các bệnh về nội tiết nói chung, gây nhiều biến chứng.
Tiểu đường bệnh lý do rối loạn chuyển hóa các chất

   Tại Việt Nam, người mắc ĐTĐ có tỉ lệ ngày càng tăng và có tới 50% người mắc ĐTĐ không biết mình bị bệnh. Ngoài ra một số người mắc ĐTĐ còn có nguyên nhân là do các bệnh nội tiết khác, hoặc do thuốc và hóa chất,... Tăng đường huyết mạn tính thường đi kèm với tổn thương lâu dài ở các cơ quan như mắt, thận, thần kinh và mạch máu

Phân loại ĐTĐ

Đái tháo đường gồm 3 loại chính
Đái tháo đường gồm 3 loại chính
  
ĐTĐ type 1 là ĐTĐ lệ thuộc insulin hay gặp ở người trẻ tuổi. Là một tình trạng rối loạn chuyển hóa. ĐTĐ type 1 là một bệnh thể nặng, thường xuất hiện đột ngột, diễn biến cấp tính hay gặp sau khi nhiễm khuẩn hoặc nhiễm độc, có thể dẫn đến hôn mê
  • ĐTĐ type 2 không lệ thuộc insulin. Bệnh hay gặp ở người cao tuổi, nữ mắc nhiều hơn nam, bệnh hay mắc ở người béo. Đây là thể bệnh nhiều người mắc, có tới hơn 90% số người bị ĐTĐ thuộc type 2.
  • ĐTĐ thai kỳ thường gặp ở phụ nữ mang thai, xảy ra khi một phụ nữ chưa hề mắc bệnh ĐTĐ nhưng trong khi mang thai lại có nồng độ đường trong máu cao.

Nguyên nhân gây bệnh ĐTĐ

   Nguyên nhân tiểu đường tuýp 1

    Bệnh tiểu đường tuýp 1: Còn được gọi là bệnh tiểu đường vị thành niên, loại này xảy ra khi tuyến tụy không tự sản xuất được insulin. Những người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 phụ thuộc vào insulin suốt đời, có nghĩa là họ phải dùng insulin nhân tạo hàng ngày để sống.
    Cho đến nay các bác sĩ vẫn chưa xác định được nguyên nhân tiểu đường type 1 nhưng họ khẳng định rằng trong hầu hết những nguyên nhân tiểu đường tuýp 1 hệ thống miễn dịch thường chống vi khuẩn và vi rút có hại đã tấn công nhầm và phá hủy các tế bào beta sản xuất insulin trong tuyến tụy, dẫn đến cơ thể không thể sản xuất đủ insulin hoặc không thể sản xuất insulin. Vì vậy bệnh tiểu đường type 1 còn có một cái tên khác là bệnh tiểu đường tự miễn.
  Do cơ thể tiếp xúc với một số loại vi rút, có thể là: Epstein-Barr, coxsackievirus, cytomegalovirus hoặc virus quai bị có thể phá hủy các tế bào tiểu đảo, hoặc các vi rút trực tiếp có thể lây nhiễm các tế bào tiểu đảo.
    Những nguyên nhân tiểu đường type 1 còn bao gồm mắc các bệnh khác như xơ nang ảnh hưởng đến tuyến tụy, phẫu thuật loại bỏ tuyến tụy, và chứng viêm (sưng, kích thích) tuyến tụy nặng cũng có thể gây ra bệnh tiểu đường bằng cách gây tổn thương đến tụy
    Bệnh tiểu đường tuýp 1 có thể có liên quan đến gene di truyền.Trong gia đình, nếu bố mẹ đều có tiền sử bệnh tiểu đường tuýp 1 thì khả năng di truyền cho con là 30%. Nếu chỉ bố bị tiểu đường thì khả năng con bị di truyền là khoảng 6%, còn chỉ duy nhất mẹ thì tỷ lệ di truyền là 4% và 1% khi người phụ nữ trên 25 tuổi.

   Nguyên nhân tiểu đường tuýp 2
   Có đến 85% người bị bệnh tiểu đường nằm trong loại bệnh tiểu đường tuýp 2. Nguyên nhân tiểu đường tuýp 2 là cơ thể trở nên kháng với insulin hoặc tuyến tụy không sản xuất đủ insulin để vận chuyển glucose vào tế bào.
   Không giống như tuýp 1, tiểu đường tuýp 2 vẫn có thể tạo ra insulin nhưng các tế bào trong cơ thể không phản ứng với nó hiệu quả. Đây là loại tiểu đường phổ biến nhất, và nó có liên quan chặt chẽ với béo phì.


    Bệnh tiểu đường tuýp 2 bắt nguồn từ sự kết hợp của các yếu tố di truyền và lối sống. Một số nguyên nhân tiểu đường tuýp 2 có thể kể đến như:
- Thừa cân hoặc béo phì:  cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tiểu đường tuýp 2. Những người béo phì trong cơ thể cuất hiện chất kháng insulin làm cho các tế bào chống lại tác động của insulin lên lượng đường trong máu.
- Chế độ ăn uống: Chế độ ăn uống dư thừa chất béo, dư thừa tinh bột khiến cho tuyến tụy phải làm việc hết công suất, gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa glucose thành năng lượng.
- Lười vận động: Khi bạn dung nạp nhiều năng lượng mà không chịu vận động thì tuyến tụy phải sản xuất insulin nhiều hơn để đưa glucose vào tế bào, chuyển hóa thành năng lượng. Nếu làm việc quá tải sẽ khiến tuyến tụy bị suy yếu, dần dần mất khả năng sản xuất insulin.
- Stress:Tình trạng stress kéo dài cũng có thể khiến cho nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn. Bên cạnh đó, một số loại thuốc điều trị về thần kinh, nhất là do stress tâm lý có thể là yếu tố nguy cơ tiểu đường.
- Hút thuốc lá: Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2, những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn những người không hút thuốc 14%. Khói thuốc ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin cũng như giảm khả năng sản xuất insulin của tuyến tụy.
- Gen di truyền: cũng như bệnh tiểu đường tuýp 1 tiền sử gia đình và gen cũng có thể gây ra bệnh tiểu đường tuýp 2. Đây cũng là nguyên nhân tiểu đường khá phổ biến.

    Nguyên nhân tiểu đường thai kỳ
    Loại này xảy ra ở phụ nữ khi mang thai, khi đó cơ thể trở nên ít nhạy cảm hơn với insulin. Bệnh tiểu đường thai kỳ không xảy ra ở tất cả phụ nữ và thường hết sau khi sinh. Tuy nhiên, phụ nữ vẫn còn nhiều rủi ro phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2 nếu đã từng mắc tiểu đường thai kỳ.
     Bệnh tiểu đường thai kỳ là kết quả của sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ. Nhau thai sản xuất hormone làm cho các tế bào của bà bầu ít nhạy cảm hơn với tác dụng của insulin. Điều này có thể gây ra lượng đường trong máu cao khi mang thai.
     Ngoài ra, khi mang thai, cơ thể bổ sung khá nhiều chất dinh dưỡng nhưng không phải khi nào tuyến tụy cũng hoạt động hiệu quả, sản xuất một lượng insulin vừa đủ và kịp thời để đáp ứng lượng glucose cần được chuyển hóa. Vì vậy mà gây ra bệnh tiểu đường thai kỳ.
     Phụ nữ thừa cân khi mang thai hoặc tăng cân quá nhiều trong thai kỳ có nhiều khả năng mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Tiểu đường thai kỳ có thể gây ra nhiều biến chứng cho mẹ và thai nhi ( dị tật bẩm sinh, thai to, đa ối, sẩy thai…) nên rất cần được sàng lọc, phát hiện sớm và điều trị hiệu quả.

Dấu hiệu nhận biết ĐTĐ

   Khi mắc ĐTĐ ở type 1 hoặc type 2, các biểu hiện các triệu chứng thường gặp như: Ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và sút cân. Ngoài ra người bệnh còn bị khô miệng, khô da, mệt mất ngủ, rụng tóc và rối loại kinh nguyệt (ở phụ nữ), vết thương lâu lành, có cảm giác kiến bò ở đầu chi,...

   Nếu bệnh nhân không được khám và điều trị có thể dẫn đến những biến chứng nặng và phức tạp ở các phủ tạng.

Những ai dễ mắc bệnh ĐTĐ?

   Khác với ĐTĐ type 1 và ĐTĐ thai kỳ hiện nay vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân. Đối với ĐTĐ type 2 có những yếu tố nguy cơ sau:
  • Yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được bao gồm thừa caab, béo phì, người ít hoạt động thể lực.
  • Người mắc một số bệnh: Tăng huyết áp, Tiền ĐTĐ, Rối loạn mỡ máu, rối loạn đường huyết lúc mang thai
  • Đối với các yếu tố nguy cơ không can thiệp được bao gồm người trên 40 tuổi, người có tiền sử gia đình từng có người bị ĐTĐ.

Xác định chẩn đoán ĐTĐ

   Để xác định có mắc ĐTĐ hay không phải khám và các chỉ số xét nghiệm đường huyết lúc đói (sau 8 giờ nhịn đói) để biết được chính xác tình trạng đường huyết của mình. Sau đó dựa vào trị số đường huyết các bác sĩ sẽ kết luận có mắc ĐTĐ hay không

Chỉ số đường huyết an toàn

   Theo tiêu chuẩn chăm sóc Đái Tháo Đường Của ADA 2015, chỉ số đường huyết an toàn chia ra dành cho các đối tượng sau:

   Đối với người tiểu đường đang điều trị bằng thuốc

  • Đường huyết ngẫu nhiên: <180 mg/dL ( 10 mmol/l)
  • Đường huyết lúc đói:  80 – 130 mg/dL ( < 7 mmol/l)
  • Đường huyết 2 giờ sau bữa ăn <180 mg/dL ( 10 mmol/l)
  • HbA1C < 7 %

   Đối với người bình thường

  • Đường huyết ngẫu nhiên: <140 mg/dL ( 7,8 mmol/l)
  • Đường huyết lúc đói:  <100 mg/dL ( < 5,6 mmol/l)
  • Đường huyết 2 giờ sau bữa ăn <140 mg/dL ( 7,8 mmol/l)
  • HbA1C < 5,7 %

   Chỉ số đường huyết giúp xác định nồng độ glucose trong máu, giúp bạn có thể xác định được người bệnh đang ở mức độ bình thường, tiền đái tháo đường hay đang bị tiểu đường.

  • Lượng đường trong máu khi đói của người bình thường là từ 70 – 100 mg/dL.
  • Lượng đường trong máu khi đói của người bị tiền đái tháo đường là từ 100 – 125 mg/dL.
  • Lượng đường trong máu khi đói của người bị tiểu đường là trên 126 mg/dL.

   Cụ thể trong bảng sau

chỉ số đường huyết bao nhiêu là bị tiểu đường

   Bên cạnh đó, cần làm thêm các xét nghiệm về lipid máu, công thức máu, tổng phân tích nước tiểu, chức năng thận, khám chuyên khoa mắt, chụp x-quang phổi... để phát hiện các biến chứng cửa bệnh ĐTĐ

Điều trị bệnh ĐTĐ như thế nào?

   ĐTĐ là bệnh mạn tính và có thể gây nhiều biến chứng do vậy người bệnh cần có chế độ ăn uống và sinh hoạt sao cho phù hợp. 

   Điều trị đái tháo đường liên quan đến chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực cùng với việc giảm glucose máu và mức độ các yếu tố nguy cơ khác gây tổn thương mạch máu. Việc ngừng sử dụng thuốc lá cũng rất quan trọng để tránh các biến chứng . Các can thiệp vừa tiết kiệm chi phí vừa có tính khả thi ở các nước đang phát triển bao gồm:

  • Kiểm soát đường máu, đặc biệt là ở đái tháo đường típ 1. Những người bị đái tháo đường típ 1 cần insulin, những người đái tháo đường típ 2 có thể được điều trị bằng thuốc uống, nhưng cũng có thể cần insulin.
  • Kiểm soát huyết áp và chăm sóc bàn chân.

Các can thiệp tiết kiệm chi phí khác bao gồm:

  • Sàng lọc và điều trị bệnh võng mạc (đây là nguyên nhân gây mù lòa)
  • Kiểm soát lipid máu
  • Sàng lọc phát hiện các dấu hiệu sớm của bệnh thận liên quan đến đái tháo đường và điều trị.


  Mục tiêu điều trị của bệnh ĐTĐ là kiểm soát tốt chỉ số đường huyết, phát hiện sớm các biến chứng nahwfm giúp bệnh nhân ngăn ngừa hoặc trì hoãn các biến chứng của ĐTĐ. Do đó, nguwofi bệnh cần được theo dõi thường xuyên bằng cách đi khám bệnh định kỳ, tuân thủ theo chế độ điều trị cảu bác sĩ.




PHÒNG KHÁM ĐA KHOA SAO MAI/Phòng khám Đa Khoa Sao Mai

Bài viết liên quan